Chỉ số và bệnh lý

Chỉ số xét nghiệm máu và bệnh lý liên quan

Trang này tập hợp những chỉ số thực sự được in trên phiếu xét nghiệm ở Việt Nam, giữ nguyên thứ tự như trên tờ kết quả trong tay bạn. Dành cho người vừa nhận phiếu khám sức khỏe định kỳ hoặc phiếu xét nghiệm ở bệnh viện và muốn biết từng dòng đó đo cái gì.

Các chỉ số xét nghiệm

Toàn bộ chỉ số theo thứ tự in trên phiếu

Phiếu kết quả gần như luôn mở đầu bằng tổng phân tích tế bào máu và kết thúc bằng nội tiết, vitamin cùng dấu ấn viêm. Sáu nhóm dưới đây đi theo đúng trật tự đó, nên bạn có thể đặt phiếu của mình bên cạnh và đối chiếu từng dòng mà không phải tìm kiếm.

Công thức máu

Hồng cầu RBC
Số lượng hồng cầu trong mỗi microlit máu; chỉ có ý nghĩa khi đọc cùng huyết sắc tố và MCV. Đọc hướng dẫn
Huyết sắc tố HGB, Hb
Sắc tố vận chuyển oxy trong hồng cầu; là căn cứ chính để kết luận thiếu máu, ngưỡng nam khác nữ. Đọc hướng dẫn
Hematocrit HCT
Tỷ lệ thể tích máu là tế bào; giảm khi thiếu máu nhưng tăng giả tạo lúc cơ thể mất nước. Đọc hướng dẫn
Thể tích trung bình hồng cầu MCV
Kích thước trung bình một hồng cầu; nhỏ trong thiếu sắt và thalassemia, to khi thiếu vitamin B12. Đọc hướng dẫn
Lượng huyết sắc tố trung bình hồng cầu MCH
Lượng huyết sắc tố trong mỗi hồng cầu; thường đi cùng chiều với MCV và củng cố hướng chẩn đoán. Đọc hướng dẫn
Nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu MCHC
Mật độ huyết sắc tố bên trong hồng cầu; giúp phân biệt thiếu máu nhược sắc với thiếu máu đẳng sắc. Đọc hướng dẫn
Dải phân bố kích thước hồng cầu RDW-CV
Mức độ không đều về kích thước hồng cầu; thường tăng sớm hơn MCV khi kho sắt bắt đầu cạn. Đọc hướng dẫn
Bạch cầu WBC
Tổng số bạch cầu; tăng khi nhiễm khuẩn nhưng lại giảm trong sốt xuất huyết và sốt thương hàn. Đọc hướng dẫn
Tiểu cầu PLT
Tế bào cầm máu; tiểu cầu giảm nhanh là dấu hiệu đáng lưu ý của sốt xuất huyết, cần đo nhiều lần. Đọc hướng dẫn
Thể tích trung bình tiểu cầu MPV
Kích thước trung bình tiểu cầu; cho biết tiểu cầu còn non hay già, gợi ý tủy xương có bù trừ không. Đọc hướng dẫn

Công thức bạch cầu

Bạch cầu trung tính NEU
Nhóm bạch cầu chiếm đa số; tăng khi nhiễm khuẩn, sau corticoid, sau gắng sức và ở người hút thuốc. Đọc hướng dẫn
Bạch cầu lympho LYM
Tế bào phụ trách miễn dịch đặc hiệu; tỷ lệ tăng tương đối trong nhiễm virus, kể cả sốt xuất huyết. Đọc hướng dẫn
Bạch cầu mono MONO
Bạch cầu dọn dẹp ổ viêm; tăng trong lao, thương hàn và các nhiễm trùng kéo dài nhiều tuần. Đọc hướng dẫn
Bạch cầu ái toan EOS
Tế bào phản ứng với dị ứng và giun sán; ở Việt Nam rất hay tăng vì nhiễm ký sinh trùng đường ruột. Đọc hướng dẫn
Bạch cầu ái kiềm BASO
Nhóm nhỏ nhất trong công thức bạch cầu; tăng nhẹ khi dị ứng và trong một số bệnh tủy xương. Đọc hướng dẫn

Gan và đường mật

AST SGOT
Men gan cũng có trong cơ tim và cơ vân; có thể tăng sau tập nặng, không riêng gì bệnh gan.
ALT SGPT
Men đặc trưng cho tế bào gan; tăng đơn độc hay gặp nhất ở gan nhiễm mỡ và viêm gan virus.
GGT Gamma GT
Men đường mật rất nhạy với rượu và thuốc; giúp tách nguyên nhân do rượu khỏi các nguyên nhân khác.
Phosphatase kiềm ALP
Men của đường mật và xương; tăng kèm GGT hướng tới tắc mật, tăng đơn độc hướng tới xương.
Bilirubin toàn phần
Sản phẩm thoái hóa của huyết sắc tố; vượt ngưỡng nhiều thì da và lòng mắt bắt đầu vàng.
Bilirubin trực tiếp
Phần bilirubin đã được gan xử lý; chiếm phần lớn khi nguyên nhân vàng da là tắc đường mật.
Albumin
Protein do gan tạo ra; giảm trong bệnh gan lâu ngày, suy dinh dưỡng và mất protein qua thận.
Protein toàn phần
Tổng lượng đạm trong huyết thanh; đọc cùng albumin để biết phần globulin tăng hay giảm.
HBsAg
Kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B; dương tính nghĩa là đang nhiễm và cần xét nghiệm tiếp.

Thận và điện giải

Ure
Sản phẩm chuyển hóa đạm do thận thải; tăng cả khi mất nước hoặc ăn nhiều đạm, không chỉ do thận.
Creatinin
Chất do cơ vân sinh ra và thận thải; là số liệu gốc để tính mức lọc cầu thận.
Mức lọc cầu thận ước tính eGFR
Khả năng lọc của thận tính từ creatinin, tuổi và giới; sát thực tế hơn creatinin đứng một mình.
Acid uric
Sản phẩm chuyển hóa purin; cao chưa đồng nghĩa với gout, nhiều người cao lâu năm mà không lên cơn.
Natri Na
Điện giải quyết định lượng nước trong cơ thể; đổi nhiều khi nôn, tiêu chảy hoặc dùng lợi tiểu.
Kali K
Điện giải ảnh hưởng trực tiếp tới nhịp tim; tăng giả tạo nếu hồng cầu bị vỡ trong ống máu.
Canxi toàn phần
Canxi trong huyết thanh; phải đọc cùng albumin vì albumin thấp làm canxi thấp một cách giả tạo.

Đường huyết và mỡ máu

Đường huyết lúc đói Glucose
Nồng độ glucose sau tám đến mười hai giờ không ăn; là một lát cắt tại đúng thời điểm lấy máu.
HbA1c
Phản ánh đường huyết trung bình hai đến ba tháng; không bị bữa ăn hôm trước làm sai lệch.
Cholesterol toàn phần
Tổng lượng cholesterol trong máu; chỉ nói được điều gì khi tách ra thành phần LDL và HDL.
Triglyceride
Chất béo trung tính trong máu; rất nhạy với rượu, đồ ngọt và việc chưa đói đủ số giờ.
HDL-C
Phần cholesterol mang chất béo trở lại gan; càng cao càng có lợi, thấp là một yếu tố nguy cơ.
LDL-C
Phần cholesterol dễ đọng lại ở thành mạch; đây chính là chỉ số mà thuốc hạ mỡ máu nhắm tới.

Nội tiết, sắt, vitamin và dấu ấn viêm

Hormon kích thích tuyến giáp TSH
Hormon tuyến yên điều khiển tuyến giáp; thường lệch trước FT4 nên là dấu hiệu sớm nhất.
T4 tự do FT4
Hormon giáp dạng tự do có hoạt tính; cho biết rối loạn tuyến giáp đã nặng đến mức nào.
Ferritin
Dạng sắt dự trữ trong cơ thể; thấp là bằng chứng rõ nhất của thiếu sắt nhưng tăng giả khi đang viêm.
Sắt huyết thanh
Lượng sắt đang lưu hành trong máu; dao động theo giờ nên tốt nhất là lấy máu buổi sáng.
Độ bão hòa transferrin
Tỷ lệ protein vận chuyển sắt đã gắn sắt; phân biệt thiếu sắt thật với thiếu máu do viêm.
Vitamin B12
Vitamin cần cho việc tạo hồng cầu và thần kinh; thiếu gây hồng cầu to kèm tê bì tay chân.
Acid folic
Vitamin nhóm B cần cho phân chia tế bào; thiếu trong thai kỳ liên quan khuyết tật ống thần kinh.
Vitamin D 25-OH
Dạng dự trữ của vitamin D; thiếu vẫn rất phổ biến ở Việt Nam dù nắng nhiều quanh năm.
Protein C phản ứng CRP
Protein gan tiết ra khi có viêm; tăng và giảm nhanh nên phù hợp theo dõi nhiễm khuẩn cấp.
Tốc độ máu lắng VSS, ESR
Tốc độ hồng cầu lắng xuống trong ống; thay đổi chậm nên phù hợp theo dõi viêm kéo dài.

Bệnh lý và tình trạng

Chỉ số nào nổi lên trong bệnh nào

Danh sách dưới đây dùng đúng những tên mà người Việt hay gõ vào ô tìm kiếm. Mỗi phần tóm tắt nói rõ xét nghiệm máu góp được gì vào bức tranh bệnh, chứ không có chỉ số nào tự mình kết luận; phần còn lại thuộc về thăm khám của bác sĩ và khi cần là chẩn đoán hình ảnh.

Thiếu máu thiếu sắt

Nguyên nhân thiếu máu thường gặp nhất ở Việt Nam, nhất là với trẻ gái dậy thì, phụ nữ có thai và người kinh nguyệt ra nhiều. Huyết sắc tố thấp đi cùng MCV nhỏ đưa hướng nghĩ về đây, còn ferritin và độ bão hòa transferrin mới cho biết kho sắt đã cạn thật hay chưa.

Huyết sắc tốMCVRDW-CVFerritinĐộ bão hòa transferrin

Tan máu bẩm sinh (thalassemia) và người mang gen

Bệnh di truyền rất phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt tại các tỉnh miền núi, và hay bị nhầm với thiếu sắt vì hồng cầu cũng nhỏ. Dấu hiệu gợi ý là MCV và MCH rất thấp trong khi ferritin bình thường; xác định chắc chắn phải nhờ điện di huyết sắc tố cùng tiền sử gia đình.

MCVMCHHồng cầuFerritinRDW-CV

Thiếu máu do thiếu vitamin B12 hoặc acid folic

Thường biểu hiện bằng mệt mỏi, rát lưỡi và tê bì bàn tay bàn chân. MCV to ra khiến hướng xét nghiệm chuyển về phía này, sau đó nồng độ vitamin B12 và acid folic cho biết đang thiếu chất nào.

MCVVitamin B12Acid folicHuyết sắc tố

Sốt xuất huyết Dengue

Từ ngày thứ ba đến ngày thứ năm của sốt, bộ ba tiểu cầu giảm nhanh, hematocrit tăng và bạch cầu lại thấp là rất đặc trưng. Quyết định không nằm ở một lần xét nghiệm mà ở chiều thay đổi qua các lần đo mỗi ngày, luôn đặt cạnh tình trạng lâm sàng của người bệnh.

Tiểu cầuHematocritBạch cầuBạch cầu lympho

Nhiễm khuẩn cấp và phản ứng viêm

Xét nghiệm máu giúp trả lời hai câu: viêm nặng đến đâu và nghiêng về vi khuẩn hay virus. CRP cao kèm bạch cầu trung tính tăng phù hợp hơn với nhiễm khuẩn, còn lympho tăng tương đối phù hợp hơn với nhiễm virus.

CRPBạch cầuBạch cầu trung tínhBạch cầu lymphoTốc độ máu lắng

Nhiễm giun sán và dị ứng

Bạch cầu ái toan tăng là manh mối hay gặp ở Việt Nam, nơi nhiễm giun đường ruột, sán lá gan và giun lươn vẫn còn nhiều. Bản thân con số này không cho biết là loại ký sinh trùng nào hay là dị ứng, nên cần xét nghiệm phân và huyết thanh chuyên biệt để đi tiếp.

Bạch cầu ái toanBạch cầuHuyết sắc tốCRP

Gan nhiễm mỡ không do rượu

Rất thường được phát hiện tình cờ khi khám sức khỏe định kỳ, thường đi kèm vòng bụng lớn, đường huyết và triglyceride cao. ALT (SGPT) tăng nhẹ kéo dài là dấu hiệu quen thuộc nhất, nhưng mức độ mỡ và xơ trong gan thì phải dựa vào siêu âm cùng các đánh giá độ đàn hồi gan.

ALTASTGGTTriglycerideĐường huyết lúc đói

Viêm gan B mạn

Tỷ lệ nhiễm ở Việt Nam thuộc nhóm cao và bệnh có thể im lặng hàng chục năm. Tình trạng nhiễm chỉ được xác định bằng HBsAg cùng các dấu ấn virus khác, trong khi ALT, albumin và tiểu cầu mô tả gan đã bị ảnh hưởng tới đâu.

HBsAgALTASTAlbuminTiểu cầu

Bệnh gan do rượu

Ở nhóm uống rượu bia thường xuyên, GGT tăng cao cùng AST lớn hơn ALT là hình ảnh kinh điển trên phiếu xét nghiệm. Các chỉ số này chỉ nói lên tổn thương và mức phơi nhiễm, còn chẩn đoán vẫn dựa trên tiền sử uống rượu được hỏi trung thực và thăm khám của bác sĩ.

GGTASTALTMCVBilirubin toàn phần

Tắc đường mật

Vàng da, ngứa và nước tiểu sẫm màu hướng về phía này. Trên phiếu, phosphatase kiềm và GGT cùng tăng, phần lớn bilirubin tăng là bilirubin trực tiếp; còn chỗ tắc nằm ở đâu thì chỉ chẩn đoán hình ảnh mới chỉ ra được.

Phosphatase kiềmGGTBilirubin trực tiếpBilirubin toàn phầnALT

Bệnh thận mạn

Thận có thể mất dần chức năng nhiều năm mà không gây triệu chứng nào. Mức lọc cầu thận giảm kéo dài ít nhất ba tháng cùng với protein rò rỉ trong nước tiểu mới là căn cứ phân giai đoạn; một kết quả creatinin đơn lẻ không đủ cho việc đó.

CreatinineGFRUreKaliHuyết sắc tố

Tiền đái tháo đường và đái tháo đường týp 2

Thường không có dấu hiệu gì trong nhiều năm nên hay được phát hiện qua khám định kỳ. Đường huyết lúc đói và HbA1c đọc cùng nhau cho hình ảnh đáng tin hơn hẳn, còn kết luận cần kết quả lặp lại vào một ngày khác chứ không dựa vào một lần đo.

Đường huyết lúc đóiHbA1cTriglycerideHDL-CALT

Rối loạn lipid máu

Điều đáng quan tâm không phải cholesterol toàn phần mà là LDL-C cao đi cùng HDL-C thấp và triglyceride cao. Quyết định điều trị luôn đặt các con số này cạnh huyết áp, thuốc lá, đường huyết và tiền sử tim mạch của gia đình.

LDL-CHDL-CTriglycerideCholesterol toàn phần

Tăng acid uric máu và gout

Acid uric cao một mình chưa phải là gout, vì rất nhiều người cao suốt đời mà không bao giờ lên cơn. Ngược lại, đúng lúc cơn cấp acid uric có thể lại bình thường, trong khi CRP và bạch cầu phản ánh tình trạng viêm đang xảy ra ở khớp.

Acid uricCRPBạch cầuCreatininTốc độ máu lắng

Suy giáp và cường giáp

Mệt mỏi, tăng cân và sợ lạnh hướng về tuyến giáp hoạt động kém; tim đập nhanh, bồn chồn và sụt cân hướng về phía ngược lại. TSH là manh mối đầu tiên, còn FT4 cho biết rối loạn đã nặng đến mức nào.

TSHFT4Cholesterol toàn phầnHuyết sắc tố

Tải phiếu xét nghiệm lên và đọc ý nghĩa bằng tiếng Việt

Bạn gửi phiếu kết quả dưới dạng PDF hoặc ảnh chụp. Phần phân tích đặt từng chỉ số vào đúng khoảng tham chiếu in trên phiếu của bạn, giải thích chỗ lệch cùng với những chỉ số liên quan, và nêu rõ điều gì nên hỏi bác sĩ khi tái khám.

Dùng thử phân tích miễn phí

Phần phân tích này là thông tin sức khỏe, không phải chẩn đoán và không thay thế việc thăm khám của bác sĩ.

Câu hỏi thường gặp

Về các chỉ số và tờ phiếu kết quả

Khoảng tham chiếu được lập ra để bao phủ chín mươi lăm phần trăm người khỏe mạnh ở vùng giữa của phân bố. Nghĩa là trong hai mươi người hoàn toàn khỏe vẫn có một người nằm ngoài khoảng đó mà không bệnh gì. Vì vậy một chỉ số vượt ngưỡng chút ít, ở người không có triệu chứng, thường chỉ cần làm lại sau một thời gian chứ không phải lo lắng. Điều thật sự có ý nghĩa là khi vài chỉ số liên quan với nhau cùng lệch về một hướng, hoặc khi một chỉ số cứ dịch dần theo cùng một chiều qua nhiều lần xét nghiệm.

Đúng, đó là cùng một men gan với hai cách gọi. SGOT chính là AST và SGPT chính là ALT theo danh pháp quốc tế. Nhiều phòng xét nghiệm ở Việt Nam vẫn in tên cũ, một số in tên mới, và không ít nơi in cả hai cạnh nhau. ALT (SGPT) đặc trưng hơn cho tế bào gan, còn AST (SGOT) cũng có trong cơ tim và cơ vân nên có thể tăng sau khi tập luyện nặng. Đọc thêm GGT bên cạnh, chính tỷ lệ giữa ba men này mới định hướng được nguyên nhân.

Với tổng phân tích tế bào máu thì không cần. Nhịn ăn tám đến mười hai giờ được yêu cầu cho đường huyết lúc đói, triglyceride và bộ mỡ máu đầy đủ. Uống nước lọc vẫn được và còn nên uống, vì tĩnh mạch dễ lấy máu hơn. Thời điểm lấy máu cũng quan trọng: sắt huyết thanh nên lấy vào buổi sáng vì dao động trong ngày, và chỉ một ly cà phê sữa hay trà đá đường buổi sáng cũng đủ làm kết quả đường huyết lúc đói mất giá trị.

Vì khoảng tham chiếu phụ thuộc vào máy móc và phương pháp mà chính phòng xét nghiệm đó dùng. Khi một bệnh viện đổi hệ thống xét nghiệm, các ngưỡng này thay đổi theo dù trong cơ thể bạn không có gì khác. Bởi vậy hãy luôn so một con số với khoảng in ngay bên cạnh nó trên phiếu của bạn, đừng so với bảng tra trên mạng. Nếu bạn đang theo dõi một chỉ số định kỳ, cố gắng làm ở cùng một nơi để những thay đổi nhìn thấy thật sự đến từ cơ thể.

Đường huyết lúc đói là một lát cắt tại thời điểm kim vào ven, nên chịu ảnh hưởng của bữa tối hôm trước, thiếu ngủ, căng thẳng và bệnh đang mắc. HbA1c phản ánh mức trung bình của hai đến ba tháng nên không bị các dao động hằng ngày làm lệch. Đọc cả hai cùng nhau sẽ cho bức tranh đáng tin hơn. Cần nhớ rằng thiếu máu, thai kỳ, tan máu bẩm sinh và một số bệnh máu khác có thể khiến HbA1c trở nên sai lệch; trong những trường hợp đó bác sĩ sẽ chỉ định xét nghiệm khác.

Không. Một tờ phiếu sạch làm giảm khả năng của một số tình trạng, chẳng hạn thiếu máu rõ rệt hay nhiễm khuẩn đang diễn ra, nhưng không loại trừ được ung thư và nhiều bệnh mạn tính khác. Triệu chứng dai dẳng vẫn phải được bác sĩ truy tìm nguyên nhân dù mọi chỉ số đều nằm trong khoảng tham chiếu. Xét nghiệm máu là một phần quan trọng của bức tranh sức khỏe, không phải toàn bộ bức tranh đó.

Nguồn tham khảo

Bài viết này là thông tin sức khỏe, không phải chẩn đoán y khoa. Hãy luôn trao đổi kết quả với bác sĩ.